Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Yêu kẻ thù

Yêu thương kẻ thù


Lời Chúa: 
 Mt 5,43-48
43 Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đã nghe dạy:  'Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù'. 44 Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con, hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con: 45 để như vậy các con nên con cái Cha các con, Đấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. 46 Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm thế ư? 47 Nếu các con chỉ chào hỏi anh em các con thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm như thế ư? 48 Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo".
"Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con, hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con." (Mt 5,44)

Suy niệm: 
 Chúa Giêsu dạy:
a/ Hãy yêu thương kẻ thù.
b/ Hãy làm ơn cho kẻ thù.
c/ Hãy cầu nguyện cho họ.
1. Phim ảnh thường kể những chuyện báo thù, coi việc báo thù là bổn phận thiêng liêng: con báo thù cho cha, chồng báo thù cho vợ, anh em báo thù cho nhau, bạn bè báo thù cho nhau nhưng gần đây ngay cả những phim mang nội dung báo thù ấy cũng dẫn đến một ý tưởng kết thúc là bạo thù không giải quyết được vấn đề, càng báo thù thì hận thù càng gia tăng chồng chất. Nghĩa là lương tri con người đã ý thức được rằng báo thù không phải là nhiệm vụ thiêng liêng nhưng là một thảm họa.
2. Trong ngôn ngữ của Kitô hữu không nên có tiếng “kẻ thù của mình”, vì Kitô hữu không được thù ai cả; chỉ có tiếng “những kẻ thù ghét mình” thôi. Và sứ mạng của Kitô hữu là cải hóa những người ấy.
Chúa Giêsu dạy ta 3 cấp độ đối xử với họ: yêu thương, làm ơn, cầu nguyện. Nếu ta chưa yêu thương được thì cố gắng lấy ơn báo oán. Nếu như vẫn chưa làm thế được thì tối thiểu hãy cầu nguyện cho họ.
3. Có hai người kia đều bị bắn tên. Người thứ nhất bình tĩnh và nhẹ nhàng nhổ mũi tên ra, băng bó vết thương, và ngày sau khỏi hẳn. Người thứ hai tức giận nhổ mũi tên ra nhưng cầm lấy đâm túi bụi vào mình mẩy của mình, đã thế khi gặp người thân anh còn đâm họ bị thương nữa.
Mũi tên chính là lời công kích của kẻ khác. Người khôn cư xử như người thứ nhất, nghe xong bỏ đi. Kẻ dại cư xử như người thứ hai cứ lập đi lập lại lời công kích đó và còn thuật lại cho người thân, làm cho bản thân mình và người thân thêm đau đớn vô ích.
4. "Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ngược đãi anh em" (Mt 5,44).
Có lẽ bạn và tôi đã có lần cảm nghiệm được niềm vui và nỗi đau của sự tha thứ và được tha thứ.
Thật vậy chỉ một thoáng vô tình tôi đã có thể trở nên một đối tượng xấu xa trong cái nhìn của tha nhân. Tâm hồn tôi sẽ ra sao khi bị nhìn bằng đôi mắt lạnh lùng, xa cách, khinh bỉ? Có lần tôi cũng đã nhìn tha nhân bằng đôi mắt ấy.
Chỉ trong sự tha thứ, tôi mới có thể họa lại nơi bản thân mình cái nhìn "cảm hóa" của Đức Kitô. Một cái nhìn không chỉ dừng lại ở việc giao hòa, mà còn đi sâu vào lòng người, xóa tan mọi ấn tượng, mặc cảm tội lỗi nơi họ. Một cái nhìn tha thứ đến mức tuyệt đối: "bảy mươi lần bảy" (Mt 18,22).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con một tâm hồn quảng đại. Một quả tim tràn đầy yêu thương, một cái nhìn khoan dung nhân hậu; để con luôn biết cảm thông thay cho chấp nhất, tha thứ thay cho kết án, yêu thương thay cho hận thù, đem niềm vui nâng đỡ cho hy vọng, xóa tan nỗi buồn tuyệt vọng đơn côi, và để trong mọi nơi mọi lúc cả trong lúc nhục nhã đớn đau vì tha nhân, con vẫn bình tĩnh can đảm và thưa với Chúa : "Lạy Chúa, xin tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34). (Hosanna)
(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
Cầu nguyện: 
Lạy Chúa Giêsu, Mỗi lần chúng con rước Chúa là một lần chúng con được ướp đời mình bằng chính sự sống phục sinh của Chúa. Xin giúp chúng con biết sống một cuộc đời rập theo khuôn mẫu của Chúa. Xin giúp chúng con cũng biết mang hương vị tình yêu Chúa cho trần gian được hưởng nếm niềm vui và hạnh phúc trong hy sinh phục vụ của chúng con.
Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con hãy trở nên muối và ánh sáng cho trần gian. Chúa mời gọi chúng con hãy thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống toả lan tình bác ái yêu thương mọi người. Dù chỉ là một ngọn đèn hải đăng lập lèo trong đêm tối, cho dù phải đương đầu với biết bao sóng gió nhưng vẫn phải giữ cho ngọn đèn luôn cháy sáng, vì biết đâu xa xa ngoài khơi vẫn còn đó những con người đang chơi vơi trong tuyệt vọng, đang lạc hướng đời người, đang cần một chút ánh sáng để quay đầu trở về, để làm lại cuộc đời.
Nhưng tiếc thay Chúa ơi! Vì lười biếng, vì ích lỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của chúng con đã lu mờ dần đi và có khi tắt ngấm. Vì thiếu bác ái, thiếu lòng nhân từ nên những ai tiếp xúc với chúng con đều cảm thấy mặn chát, khô cằn, thiếu sức sống vui tươi. Xin Chúa giúp chúng con dám hy sinh và từ bỏ mình mỗi ngày để trở nên ánh sáng và muối men cho đời. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng:
                                                         "Làm thân cây nến vào đời
                                                Càng tiêu hao cháy, càng ngời ánh quang"
. Amen.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

lược sử giáo lý viên họ Giữa Hiền, xứ Hiền Quan



Tiểu sử giáo lý viên giáo họ Giữa Hiền, xứ Hiền Quan

I. Đặc điểm tình hình

a. Thời điểm thành lập

Vào đầu năm 1960, dưới thời cha cố Phao lô Nguyễn Siêu Việt chính xứ Hiền Quan, giáo họ giữa hiền có một số các ông bà tham gia vào công việc dạy Bổn lẽ cần và kinh nguyện hàng ngày cho các em, nhằm giúp các em giữ vững đức tin trong hoàn cảnh đất nước khó khăn lúc bấy giờ. các ông tham gia là: ông giuse Đặng Văn Phẩm (trưởng ban), ông Hyheronimo Nguyễn Văn Thành (làm phó), cùng các ông Giuse Đặng Văn Định, Maria Đỗ Thị Dậu, Maria Đặng Thị Vị.

Thời đó, tổ chức mỗi lớp khoảng 20-25 em vì hoàn cảnh cơ sở vật chất của giáo họ còn hạn chế.

b. Giai đoạn từ 1980-1990

Tiếp nối sứ vụ của các bậc tiền nhân, các thế hệ sau này tiếp tục giúp các em học Kinh Bổn dạy những lẽ cần học hỏi kinh nguyện sáng cho các em trong những năm sau chiến tranh. đó là các ông: giuse Nguyễn Văn Lạc, Giuse Nguyễn Văn Thưởng, giuse Nguyễn Văn Hoán, giuse Nguyễn Văn Sáng, giuse Trần Văn Hữu. Giuse Đặng Văn Phương.

c. Giai đoạn từ 1991-2005

Tiếp tục chương trình dạy giáo lý chuyên sâu của Giáo hội, cụ thể tổ chức cho các em học hỏi chương trình giáo lý hệ thống của giáo phận Xuân lộc được thống nhất trong toàn giáo phận, giáo xứ cũng như giáo họ, được tổ chức cho các em từng lớp khoảng 25-30 em trong 1 lớp, các giáo lý viên là: Giuse Đặng Văn Cương (trưởng ban), Giuse Đỗ Văn Nho (phó ban), Maria Trần Thị Hiền, Maria Nguyễn Thị Minh, Giuse Nguyễn Văn Kiểm, Giuse Nguyễn Văn Chúc, cùng một số anh chị em giáo lý viên khác nữa hoạt động trong thời gian đó.

d. Thời điểm từ 2005-2013

Tiếp nối sứ vụ tông đồ của người giáo lý viên ngày hôm nay, tiếp tục thực hiện chương trình chung của giáo phận, đặc biệt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Giám mục giáo phận và của Ủy ban Giáo lý giáo phận, các giáo lý viên trong giáo họ vẫn tiếp tục sứ vụ dạy và giúp các em học giáo lý theo từng cấp: cấp 1 Đến Bàn Tiệc Thánh; cấp 2 Lớn Lên Trong Chúa Thánh Thần; cấp 3 giáo lý Sống đạo.

Nhằm giúp các em có đủ điều kiện để lãnh nhận Bí Tích trong đời sống hàng ngày, học kinh nguyện sáng tối, giúp đỡ các em trong đời sống nhân bản và đức tin cho các em. các giáo lý viên là: Giuse Nguyễn Văn Phúc (trưởng ban), Maria Trần Thị Hiền, Maria Nguyễn Thị Minh, Maria Nguyễn Thị Thân, Maria Đặng Thị Minh, Giuse Đỗ Văn Yên.

II. Phương hướng năm 2013 và những năm tiếp theo



Thực hiện tốt hướng dẫn của Ủy ban Giáo lý của giáo phận, giáo lý viên trong giáo họ cố gắng duy trì số lượng giáo lý viên đã có, tiếp tục cộng tác với Ban Hành Giáo họ để tìm người mới đi học để tạo thêm số lương giáo lý viên, duy thời gian dạy học cho các em theo chương trình giáo lý các cấp, nhằm giúp các em có đủ điều kiện để lãnh nhận các bí tích và giúp các em học hỏi kinh nguyện sáng tối, hầu giúp các em thăng tiến hơn về đời sống đức tin và đời sống nhân bản trong điều kiện sống đạo của ngày hôm nay.

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Giáo họ Xuân Quang, xứ Hiền Quan

I.                   Giai đoạn hình thành
Vào năm 1960, có khoảng 20 gia đình công giáo sinh sống tại xã Xuân Quang (còn gọi là xóm Tân Tiến), trong thời buổi khó khăn nên việc sống đạo không phổ biến rộng rãi được, vì vậy 20 gia đình này mới xin cha chánh xứ cho lập 1 giáo họ riêng. Ý nguyện đó đã được cha Phêrô Nguyễn Siêu Việt chấp thuận, đặt tên là giáo họ Tân Tiến và xin nhận thánh Phanxicô Xavie làm bổn mạng mừng kính vào ngày 3/12 hàng năm. Trong xuất thời gian khó khăn kéo dài nên mọi người phải đọc kinh cầu nguyện ở nhà, cầu xin ơn Chúa dẫn đường chỉ lối cho chúng con sớm xây dựng được nơi thờ phượng.
II.                Giai đoạn phát triển
Năm 1989, ông Giuse Đỗ Văn Danh cho giáo họ mảnh đất có diện tích dài 50m, rộng 20m để xây dựng nhà thờ (nhà nguyện). Khi đã có đất để xây dựng nhà thờ, bà con giáo dân trong họ đã vân dụng đóng gạch bằng đất ở nơi khác chuyển về và cắt cử nhau đi cắt Tế, xin Củi để đốt lấy gạch, thanh niên đi đào Ao thuê, bà con đan Rổ đan Giành để lấy tiền nuôi cơm thợ xây dựng nhà thờ. Nơi đất lành chim đậu, dân số mỗi ngày một tăng thêm, năm 1996 đã có 45 gia đình và 200 nhân danh.
Đến năm 1999, vì điều kiện sinh sống nên 10 gia đình trong họ phải di chuyển di cư đến nơi khác. Trải qua 25 năm, họ giáo đã có được nhà thờ, đã có đất mới nên cha xứ Giuse Nguyễn văn Đông đã đặt móng xây dựng nhà thờ và năm 1990 hoàn thành. Cha Phêrô Phùng Văn Tôn về cai quản và làm phép nhà thờ cùng dặt mình Thánh thường xuyên. Cha Tôn lại cho giáo họ một quả chuông với lời nhắn mỗi khi nghe tiếng chuông là giờ kinh tối sớm hàng ngày.
Năm 2000, cha Giuse Đỗ Đình Đạt cai quản giáo họ và đổi tên là giáo họ Xuân Quang như hiện nay.
Năm 2004, cha Phêrô Nguyễn Trường Thịnh về cai quản và coi sóc cho đến ngày nay.
III.             Sinh hoạt giáo dân
Tổng số nhân danh hiện nay có 188, với 65 gia đình.
Giáo họ đọc kinh tối sớm tại nhà thờ, tổ chức ngắm nguyện vào mùa Chay hàng năm.
IV.             Ban chấp hành qua các nhiệm kỳ

-          Antôn Đỗ Văn Khoản 1960-1965
-          Antôn Hoàng Văn Hưởng 1965-1979
-          Phanxicô Lương Văn Tuế 1979-1985
-          An tôn Đỗ Văn Thêm 1985-1989
-          Phaolô Nguyễn Văn Lý 1989-1993
-          Phanxicô Phan Văn Chắt 1993-1997
-          Phaolô Nguyễn Văn Lợi 1997-2002
-          Phanxicô Đỗ Văn Quất 2002-2006
-          Phanxicô Đỗ Hồng Phúc 2006-2011
-          Phanxicô Đỗ Đức Long 2011-2016

V.                Những Linh mục, tu sĩ xuất thân từ giáo họ
1, Sr Maria Đỗ Thị Liễu (đã khấn tạm dòng MTG Hưng Hóa)

Hội Mân Côi

I.                   Thành lập
Năm 2000, được cha Giuse Đỗ Đình Đạt chính thức cho thành lập, đây là một hội thành lập đầu tiên trong giáo họ.
II.                Tôn chỉ và mục đích
Động viên và thực thi 3 mệnh lệnh của Đức Mẹ: cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt và tôn sùng mẫu tâm.
Mỗi thành viên mỗi ngày lần hạt 1 chục và đọc kinh Hãy Nhớ, thực hành quy chế hội, mỗi ngày làm một việc tốt, góp quỹ hội, xin lễ cho các thành viên qua đời và đọc kinh 3 tối.
hội viên sinh hoạt vào ngày 15 hàng tháng, hiện nay số hội viên đã được 46.
III.             Tổ chức và thực hiện
Ban chấp hành hội gồm 1 trưởng, 1 phó, 1 thư ký và thủ quỹ. 3 năm bầu ban chấp hành 1 lần. ban chấp hành điều hành và thông báo cùng làm những công tác hội trao như thăm hỏi, thăm viếng và các công tác bác ái.
IV.             Ban chấp hành qua các nhiệm kỳ

-          Maria Hoàng Thị Nghĩa 2000-2004
-          Maria Phạm Thị Khuê 2004-2007
-          Maria Nguyễn Thị Định 2007-2010
-          Maria Hoàng Thị Nghĩa 2010-2013

Hội Giuse

1.      Quá trình thành lập cùng phát triển
Năm 2009, cha Phêrô Nguyễn Trường Thịnh chính thức cho thành lập. Hội có 24 thành viên, chia thành 2 tổ để chia sẻ Lời Chúa.
Xây dựng quỹ hội thăm hỏi các gia đình ốm đau bệnh tật, giúp đỡ mọi việc trong giáo họ, mừng kính lễ quan thầy hàng năm.
2.      Ban chấp hành hội
Từ năm 2009-2016: Giuse Nguyễn Văn Thành, Giuse Đỗ Văn Giang, Phan xi cô Lương Văn Tiến và Giuse Phạm Văn Tuyến.

Ca đoàn

Năm 1992, được sự dìu dắt của cha Phêrô Phùng Văn Tôn cho người đi học nhạc về đạo tạo ca đoàn hát lễ, cô Maria Phạm Thị Hà làm ca trưởng, ca đoàn có 20 thành viên, ông Phanxicô Đỗ Văn Cường làm phó. Năm 2011, ông Phanxicô Đỗ văn Cường làm ca trưởng và ông Phanxicô Phạm Văn Hưng làm phó.

Giáo lý của giáo họ

Năm 1992, cha Phêrô Phùng Văn Tôn cho 1 người đi học về làm giáo lý viên để dạy 35 em học giáo lý của giáo họ. khi đó giáo họ cũng chỉ có 1 phòng học duy nhất lợp bằng lá cọ, nếu mưa các em phải học trong nhà thờ, giáo trình học là tài liệu giáo lý Nha Trang trước năm 2000.

Từ năm 2000 đến nay, các cha xứ đã mở lớp theo chương trình giáo lý Xuân Lộc, để dạy các em từng bước theo lứa tuổi. từ đó đến nay, giáo họ có 4 giáo lý viên và dạy 56 em giáo lý vào các dịp hè cùng các ngày Chúa Nhật hàng năm tại 2 phòng học giáo lý của giáo họ và tron nhà thờ, nên các em hiểu biết về giáo lý nhiều hơn.
Huynh đoàn Đaminh xứ Hiền Quan

I.                   Giai đoạn hình thành
Huynh đoàn giáo dân Đaminh thuộc giáo xứ Hiền Quan, thuộc giáo hạt Đông Nam Phú Thọ.
Thành lập huynh đoàn do cha Giuse Nguyễn Công Hách thành lập ngày 29/04/1966. Văn thư châu phê số 579/149, do cha Giám Tỉnh Giuse Nguyễn Cao Luật OP ký ngày 05/11/2004.
Bổn mạng: thánh Tôma Đinh Viết Dụ, kính ngày 25/11 hàng năm.
Cha linh hướng: cha Phê rô Nguyễn Trường Thịnh.
II.                Tôn chỉ và mục đích
Sống theo linh đạo của thánh tổ phụ Đaminh là nói với Chúa và nói về Chúa. thánh hóa bản thân và thánh hóa tha nhân. trong bốn cột trụ chính là: 1 là kết hợp với Chúa; 2 là hiệp thông huynh đệ; 3 là chuyên cần học tập; 4 là tông đồ bác ái.
Hội viên mỗi ngày đọc một kinh lậy cha cầu nguyện cho người còn sống và một kinh vực sâu cầu nguyện cho người đã qua đời.
mỗi tuần lần hạt 50 kinh Mân Côi và tham dự một Thánh Lễ.
Mỗi thánh sinh hoạt chung với huynh đoàn một lần, để cầu nguyện chung và để tỏ lòng hiệp thông liên đới.
III.             Giái đoạn phát triển
Thời kỳ đầu sống trong âm thầm theo thụ bản của dòng ba Đaminh. mọi thành viên kiên trì sốt sáng sống theo tinh thần dòng. Đã hình thành được 4 chi trong 4 giáo họ trong giáo xứ, đến nay đã có 7 chi trong 7 họ đạo của hai giáo xứ Hiền Quan và Thanh Uyên. Với số hội viên là 190, trong đó có 17 hội viên nam và 173 hội viên nữ. số hội viên đã qua đời là 29 thành viên.
Hiện nay với danh hiệu là huynh đoàn giáo dân Đaminh, sống theo linh đạo Đaminh Việt Nam. Nói chung mọi thành viên đều sống đúng luật sống, nhờ sự học tập hiểu biết hơn sống và thực hành tốt hơn. Cụ thể qua các dịp các khóa tiến cấp và các khóa học chân lý hàng năm các hội viên đều tích cực hơn, nên được các đoàn thể khác, đặc biệt là ban hành giáo xứ, giáo họ quan tâm hơn nên càng ngày có thêm hội viên mới xin gia nhập huynh đoàn.
IV.             Tổ chức và điều hành
Ban phục vụ huynh đoàn gồm 9 thành viên; 1 đoàn trưởng, 2 đoàn phó, 1 thư ký, 1 thủ quỹ, 1 phụ trách học tập, 2 phụ trách tông đồ bác ái, 1 phụ trách giới trẻ. mỗi họ có mặt hội viên huynh đoàn là một chi và có chi trưởng chi phó, do các hội viên chi bầu ra. Các chi có quyền sinh hoạt riêng vào trưa Chúa Nhật hàng tuần ở nhà thờ họ đó. Với việc đọc, suy niệm, chia sẻ Lời Chúa và đọc Kinh Phụng Vụ, vệ sinh nhà thờ.
Công tác tông đò cùng nhau động viên ai có khả năng tham gia vào các ban ngành trong giáo xứ giáo họ, đã có các hội viên vào các ban như: ban Hành Giáo, Giáo Lý viên, Ca Đoàn, gia đình Khôi Bình, hội Mân Côi, hội Gia Trưởng, hội Caritas.
Công tác bác ái đã và đang làm các việc như: thăm viếng bệnh nhân, gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn dủi do, chia sẻ giúp đỡ khi cần giúp đỡ, không kể lương giáo, thăm hỏi người ốm đau tai nạn, phúng viếng người qua đời, đọc kinh cầu nguyện, hiệp dâng Thánh Lễ An Táng, đưa xác đến nơi an nghỉ cuối cùng và sau đến gia đình nhà hiếu đọc kinh phụng vụ cầu nguyện cho người đã qua đời.
V.                Ban phục vụ các nhiệm kỳ (đoàn trưởng)

-          Giuse Đỗ Cảnh Ngoạn 1994-1996
-          Giuse Đỗ Văn Tuệ 1996-1999

-          Giuse Đỗ Tất Ưng 1999-2014 (đã được chuẩn làm khóa thứ 5).
Ngày 20 Tháng 12, Tuần bát nhật chuẩn bị lễ Giáng Sinh

Lời Chúa: Lc 1,26-38
26 Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.
28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."
34 Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"
35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. 37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."
38 Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Lc 1,38)


Suy niệm:

A. Phân tích

Bài Phúc Âm hôm nay giới thiệu nhân vật quan trọng trong việc Chúa Cứu Thế sinh ra: Đức Maria.

1. Thánh Luca trình bày Đức Maria là “Thiếu nữ Sion” (Câu “mừng vui lên” là âm hưởng của lời ngôn sứ Xôphônia nói với thiếu nữ Sion: Xp 8,14). Ngày xưa qua miệng ngôn sứ, Thiên Chúa hứa sẽ đến ở nhà “thiếu nữ Sion” (tức là dân Chúa). Lời hứa này hôm nay được thực hiện nơi Đức Mẹ.

2. So sánh Đức Maria với ông Dacaria: khi được báo tin sẽ có con, cả Dacaria và Đức Maria đều thắc mắc hỏi lại. Nhưng câu hỏi của Dacaria biểu lộ sự không tin (câu 20: Lời thiên sứ nói “Bởi vì ông không tin”). Còn câu hỏi của Đức Maria là để xin soi sáng thêm (“việc ấy xảy đến thế nào?”), và sau đó Người đã mau mắn thưa Fiat.

B. Suy niệm

1. Đức Maria hỏi “Việc ấy xảy ra cách nào được, vì...”. Thiên sứ đáp “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (câu 37). Rất nhiều điều con người tưởng không thể nào làm được thế mà Thiên Chúa vẫn làm được: Ngài đã làm cho Êlisabét son sẻ được có con, đã làm cho Đức Maria đồng trinh sinh ra Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa cũng có thể làm nơi mỗi người chúng ta những việc trọng đại, miễn là chúng ta sẵn sàng để Ngài hoạt động trong chúng ta.

2. Mặc dù “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, nhưng thường Thiên Chúa không làm một mình, Ngài thích có sự hợp tác của con người. Để cho Đấng Cứu Thế nhập thể, Thiên Chúa đã nhờ Đức Maria hợp tác. Và Đức Maria đã hợp tác bằng cách ngoan ngoãn để cho ơn Chúa hành động trong mình và qua mình: “Xin cứ làm cho tôi...”.

3. Một thanh niên kia có thói quen ngủ rất say, luôn cần có mẹ gọi mới thức dậy được. Sau khi tốt nghiệp, anh đi làm ở một chỗ xa nhà. Mẹ anh mua cho anh một chiếc đồng hồ báo thức. Ngày đầu tiên anh quên vặn đồng hồ trước khi ngủ nên đến sở làm trễ. Ngày thứ hai, anh nhớ vặn đồng hồ, nhưng sáng sớm khi nó reo thì anh đưa tay tắt bỏ, nên lại đi làm trễ. Và anh bị đuổi việc. Khi anh trở về gia đình, mẹ anh hỏi về chiếc đồng hồ. Anh đáp: Chiếc đồng hồ đó hoàn toàn vô dụng đối với con. Nó vô dụng là vì con không chịu dùng nó. Mẹ anh đáp. Bao nhiêu ơn Chúa ban cho ta cũng đều vô dụng nếu ta không xử dụng đến.

4. Lịch sử cứu độ thời Cựu Ước bắt đầu bằng một hành vi đức tin của Abraham. Ông được gọi là “cha của những kẻ tin”. Lịch sử cứu độ thời Tân Ước cũng bắt đầu bằng hành vi đức tin của Đức Mẹ. Đức Maria được gọi là “mẹ của những kẻ tin”. Lịch sử cứu độ của mỗi người cũng phải bắt đầu bằng hành vi đức tin của người đó.

5. “Sứ thần nói với cô Maria: Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Cô Maria thưa với sứ thần: “Này tôi là nữ tì của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Một biến cố như cuồng phong chợt đến trong tâm tư người thôn nữ Nadarét, làm đảo lộn mọi dự tính, mọi ước mơ. Và có nguy cơ bị hiểu lầm, ruồng rẫy… Nhưng Mẹ Maria đã dám “Xin Vâng”, tin tưởng phó thác vào tình thương và sự tín trung của Thiên Chúa. Mẹ đã dám “Xin Vâng” và nhận mình là bé nhỏ, là thuộc về. Mẹ đã dám “Xin Vâng”, và nhận được sự bình an.

Tuổi trẻ luôn có nhiều ước mơ, hoài bão, tự xây cho mình nhiều kế hoạch để khẳng định chính mình, nên rất sợ những biến cố, những tai họa, vì chúng tạo ra những thay đổi, gây nên những thất bại và làm đổ bể mọi kế hoạch. Tôi lo lắng, sợ hãi vì chưa biết chấp nhận sự nhỏ bé của mình, chưa tin tưởng phó thác vào Tình yêu của Thiên Chúa, và chưa dám Xin Vâng như Mẹ Maria.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy con biết Xin Vâng như Mẹ. Xin Vâng mỗi ngày trong suốt cuộc sống của con, để dù cuộc sống có như thác đổ, lòng con vẫn cứ bình an vì biết rằng Chúa luôn đồng hành với con.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, người ta thường nói rằng "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: Niềm vui Giáng sinh không hệ tại ở ngoại cảnh, nhưng nằm ở trong chính tâm hồn chúng con. Từ đó, chúng con luôn sẵn sàng đổi mới tâm hồn mình luôn mau mắn giao hòa cùng Chúa và anh em.

Lạy Chúa Giêsu, trời mỗi ngày thêm lạnh hơn, không khí Noel có vẻ như tưng bừng nhộn nhịp lên. Nơi nơi tiếng hát mừng sinh nhật Chúa được vang xa bao trùm khắp không gian. Những cánh thiệp mừng sinh nhật Chúa được trao tặng nhau trong tình thương mến nồng nàn. Không gian và thời gian như đang hòa điệu với nhau để mang lại vẻ tươi vui nhộn nhịp cho ngày đại lễ. Lòng người cũng rộn lên niềm vui. Con người cũng muốn hòa chung niềm vui cùng vạn vật bằng sự sửa soạn từ tâm hồn đến thể xác những điều cần thiết cho niềm vui được trọn vẹn và bền vững. Xin cho chúng con luôn biết noi gương Ðức mẹ, biết kiên trì lắng nghe, cầu nguyện và suy niệm lời Chúa, để lời Chúa thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của chúng con. Xin cho chúng con cũng biết đón nhận ý Chúa trong mọi biến cố cuộc đời, bằng hai tiếng xin vâng với trọn niềm phó thác tin yêu. Xin cho mọi người đều nhận ra Chúa chính là hoàng tử bình an, là niềm vui đích thực để nhân loại cùng chung niềm vui mừng sinh nhật của Chúa, không chỉ bằng những nhộn nhịp bên ngoài, nhưng bằng một sự hoán cải nội tâm, ngõ hầu niềm vui và sự bình an của Chúa ngự trị nơi mọi tâm hồn.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết xin vâng như Mẹ. Xin vâng trong mọi hoàn cảnh. Xin vâng theo thánh ý Chúa để tâm hồn chúng con luôn bình an trong Chúa. Amen.


Ngày 19 Tháng 12, Tuần bát nhật chuẩn bị lễ Giáng Sinh

Lời Chúa: Lc 1,5-25
Thời vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê, có một vị tư tế thuộc nhóm Avigia, tên là Dacaria; vợ ông là Êlisabét cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Êlisabét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên. 8Sau đây là chuyện xảy ra trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa khi đến phiên của nhóm ông: Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa. 10 Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài.
11 Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. 12 Thấy vậy, ông Dacaria bối rối, và nỗi sợ hãi ập xuống trên ông. 13 Nhưng sứ thần bảo ông: "Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan. 14 Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. 15 Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa. Rượu lạt rượu nồng em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. 16 Em sẽ đưa nhiều con cái Ítraen về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. 17 Được đầy Thần Khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa." 18 Ông Dacaria thưa với sứ thần: "Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi." 19 Sứ thần đáp: "Tôi là Gáprien, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. 20 Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi." 21 Dân chúng đợi ông Dacaria, và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như thế. 22 Lúc đi ra, ông không nói với họ được, và dân chúng biết là ông đã thấy một thị kiến trong cung thánh. Còn ông, ông chỉ làm hiệu cho họ và vẫn bị câm.
23 Khi thời gian phục vụ ở Đền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. 24 Ít lâu sau, bà Êlisabét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. 25 Bà tự nhủ: "Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời."
"Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời." (Lc 1,25)
                                                             Suy niệm:
A. Phân tích

Bài Phúc Âm hôm nay giới thiệu hoàn cảnh sinh ra nhân vật thứ hai sẽ dọn đường cho Chúa Cứu Thế: Gioan Tiền Hô.

1. Ông Dacaria và bà Êlisabét được trình bày theo hình ảnh của những tổ phụ thời Cựu Ước: công chính, tuân giữ mọi đều răn và mệnh lệnh Thiên Chúa, nhưng son sẻ và cao niên cũng như Abraham, Sara; cha mẹ của Samson; cha mẹ của Samuel… Do đó có thể nói hai ông bà là đại diện cho Cựu Ước.

2. Đứa con mà họ sẽ sinh ra cũng là đại diện của Cựu Ước: Gioan được mô tả như các ngôn sứ, được Thiên Chúa gọi ngay từ lòng mẹ, chính Thiên Chúa đặt tên cho, rượu lạt rượu nồng đều không uống, đầy Thần Khí và uy quyền của ngôn sứ. Gioan sẽ thay mặt Cựu Ước để giới thiệu Đức Giêsu của Tân Ước.

3. Việc sinh con trong hoàn cảnh son sẻ tuổi già của các nhân vật Cựu Ước và của vợ chồng Dacaria chuẩn bị cho cuộc sinh ra đặc biệt của Chúa Giêsu, bởi vì “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1,37)

B. Suy niệm

1. Theo cái nhìn đức tin, và trong chương trình cứu rỗi của Chúa, mỗi người sinh ra đều có một ơn gọi, một sứ mệnh. Xin Chúa cho con nhìn ra và xác tín ơn gọi, sứ mệnh của con hôm nay. Xin Chúa cho con cũng nhìn ra và quý trọng ơn gọi, sứ mệnh của anh chị em đang sống bên con, nhất là sứ mệnh dọn đường cho Chúa đến.

2. Việt Nam ta có một truyện cổ nói lên niềm tin dân gian vào sứ mệnh, vào số mệnh của từng con người trên đời. Nhà kia có ba cậu con trai. Một cậu nổi tiếng là ‘phá gia chi tử’, tiêu xài phung phí, phá của. Cậu khác quanh năm làm ăn quần quật, không dám tiêu xài một xu nào. Cậu thứ ba tuy không phá của nhưng cũng chẳng chịu làm gì hết. Một ngày nọ ba cậu đều hấp hối. Trước khi chết ba cậu lần lượt nói rõ lý do tại sao mình sắp chết. Cậu ‘phá của’ nói rằng nhà này (ý nói cha mẹ cậu) kiếp trước nợ nần tôi nên kiếp này tôi đầu thai vô để đòi nợ. Nay đòi xong, tôi ra đi. Cậu ‘làm quần quật’ nói rằng kiếp trước tôi mắc nợ nhà này, nay đầu thai để trả nợ, đã trả xong nay tôi ra đi. Còn cậu cuối cùng nói rằng tôi chẳng dính dáng nợ nần gì với nhà này. Tôi đầu thai vô đây để làm nhân chứng. Nay chứng kiến hai đứa kia đã đòi xong nợ, đã trả hết nợ, vậy tôi ra đi. Chúng ta không tin vào quan niệm đầu thai để đi vào một định mệnh nghiệt ngã, nhưng chúng ta tin vào một sứ mệnh riêng, có tính cách mời gọi và thôi thúc, mà Chúa gửi gắm cho mỗi người chúng ta.

3. Dacaria bị câm nín một thời gian sau đó hát lên bài ca nổi tiếng Benedictus. Đời sống đạo của ta cũng có thể có nét gì tương tự như vậy. Sau những thử thách, sau những gian khổ nghiền ngẫm, sau mùa đông… sẽ là niềm hân hoan an bình, sẽ là bài ca chúc tụng, sẽ là những bông hoa tươi đẹp… nếu ta biết vững niềm tin cậy phó thác vào tình thương của Chúa.

4. “Một sứ thần hiện ra với Dacaria và bảo: “Bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai và ông phải đặt tên cho con là Gioan.” Dacaria thưa rằng: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già mà nhà tôi cũng đã lớn tuổi.” (Lc 1,13.18)

Cô Isabelle 19 tuổi, nữ sinh viên người Pháp, đã cảm thấy “Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa nữa”, vì sau những đau khổ, mất mát xảy đến với cô, Thiên Chúa đã“ngoảnh mặt làm ngơ.” Cô không còn thiết sống nữa. Nhưng chính trong bước đường cùng ấy, theo lời khuyên của một người bạn, cô đã “đến và ở lại với Chúa,” và cô đã cảm nghiệm được lòng nhân từ của Người, đến nỗi có thể thốt lên như thánh Phaolô: “Không gì có thể tách tôi ra khỏi Tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô.”

Cuộc sống đã hơn một lần khiến tôi cảm thấy không biết phải dựa vào đâu để tin vào Thiên Chúa và chấp nhận những gì xảy đến cho tôi. Cũng như ông Dacaria và cô Isabelle, trước những thách đố của cuộc sống, tôi cũng cảm thấy bối rối, lo âu, không biết nương nhờ ai để có thể đứng vững.

Lạy Chúa, xin cho con biết đến và ở lại với Chúa, tìm và gặp nơi Ngài chỗ nương thân.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã đến lần thứ nhất, đã nhập thế làm người và qua đó trao ban cho chúng con niềm vui ơn cứu độ. Chúng con thực sự vui mừng vì có Chúa ở cùng chúng con. Chúng con thật hạnh phúc vì có Chúa luôn đồng hành với chúng con trong cuộc sống. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa đến và lưu lại trong tâm hồn chúng con. Chúng con xin hết lòng cảm tạ, tri ân tình yêu cao sâu mà Chúa đã dành cho chúng con.

Vâng, lạy Chúa, tình yêu đó hôm nay Chúa đã dành cho gia đình Dacaria. Chúa đã viếng thăm gia đình ông. Chúa đã tỏ lòng thương xót gia đình ông qua món quà vô giá là đứa con được sinh ra trong lòng thương xót của Chúa. Xin cho các gia đình trẻ hôm nay biết yêu mến sự sống là quà tặng của Chúa. Xin cho họ biết quảng đại đón nhận con cái là hồng ân Chúa ban. Xin đừng để tính ích kỷ, thói hưởng thụ khiến họ loại trừ mầm sống nơi các thai nhi vô tội. Xin cho các quốc gia trên toàn thế giới biết tôn trọng sự sống của con người để luôn dùng luật pháp mà bảo vệ sự sống chứ không bóp chết sự sống như một số quốc gia vẫn làm.

Lạy Chúa, Chúa là Đấng giàu lòng xót thương. Xin thương ban cho chúng con tâm hồn bình an, thân xác khỏe mạnh. Xin bồi bổ tâm hồn chúng con bằng ân sủng và tình thương của Chúa. Amen.


Ngày 18 Tháng 12, Tuần bát nhật chuẩn bị lễ Giáng Sinh

Lời Chúa: Mt 1,18-24
18 Sau đây là gốc tích Chúa Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta." 24 Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.
"Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà." (Mt 1,24)
Suy niệm:

A- Phân tích

Bài Phúc Âm hôm nay giới thiệu nét thứ hai của Chúa Cứu Thế sắp sinh ra: Ngài là Emmanuel, Thiên Chúa ở với loài người (c.23). Bài Phúc Âm cũng giới thiệu một người đóng vai trò tích cực cho việc Ngài sinh ra: Thánh Giuse.

1. Phần đóng góp của Thánh Giuse vào công trình nhập thể của Chúa Giêsu là:

a/ Cho Chúa Giêsu một tư cách pháp lý là con cháu Đavít, nhờ thế thực hiện đúng lời Thiên Chúa đã hứa xưa từ thời Cựu Ước c.20b: “Này ông Giuse, là con cháu Đavít”; c.21 “Ông sẽ đặt tên cho con trẻ”: Thánh Giuse đặt tên cho Chúa Giêsu nghĩa là nhận Chúa Giêsu là con mình theo pháp lý.
b/ Bao bọc Mẹ Maria và Chúa Giêsu: c.20c “Đừng ngại đón Maria về"; c.24 “Khi tỉnh giấc, Giuse làm như lời sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”; c.25 “và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu.”

2. Về ý định ban đầu, Thánh Giuse muốn bỏ đi cách âm thầm kín đáo, các chuyên viên Thánh Kinh còn chưa nhất trí nhau ở một số chi tiết. Nhưng mọi người đều nhất trí về động cơ hướng dẫn mọi hành động của thánh Giuse (ý định ban đầu, và quyết định ở lại sau đó), đó là vì “Giuse là người công chính.” Một giải thích rất đáng lưu ý là: Ban đầu, Giuse biết mình không phải là cha của đứa bé nên vì công chính mà không dám nhận quyền làm cha, bởi đó định âm thầm ra đi (Công chính=không xâm phạm quyền lợi của người khác); sau đó khi biết ý Thiên Chúa muốn mình bảo bọc Đức Maria và Chúa Giêsu thì, cũng vì công chính nên Ngài đã ở lại (Công chính=thi hành ý Thiên Chúa).

3. Chúa Giêsu là Đấng Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Tuy là Thiên Chúa, nhưng vì yêu thương loài người, Ngài đã nhập thể sống chung với loài người, bất chấp mọi nghèo nàn, túng thiếu, hèn hạ, khổ sở... Yêu thương là chia vui sẻ buồn, chia sẻ thân phận...

B- Suy gẫm

1. Emmanuel “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”: Chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Đức Giêsu Kitô. Muốn cứu người, không phải chỉ đứng xa chỉ tay năm ngón, hoặc vẽ kế hoạch rồi cho người khác thực hiện. Nhưng là chia sẻ thân phận, đồng hành, và cuối cùng là chịu thiệt vào thân, leo lên cây Thập Giá. Thập Giá là bước cuối cùng của nhập thể và nhập thế của Chúa Giêsu Kitô. Lạy Chúa, xin dạy con biết dấn thân phục vụ như Chúa.

2. Giuse đã thay đổi kế hoạch của mình để theo ý Chúa. Những nhận định và tính toán của ta, dù đầy thiện chí, nhiều khi lại không hợp với chương trình và ý định của Thiên Chúa. Người công chính là người biết bỏ ý riêng, biết thi hành ý Chúa, biết sống lời Fiat như Mẹ Maria, biết sống câu “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha”như Chúa Giêsu.

3. Với con mắt người đời, tình yêu của đôi nam nữ Giuse và Maria xem ra chỉ là chuyện bình thường. Nhưng với kế hoạch của Thiên Chúa, với sự quảng đại đáp trả ơn Chúa gọi, Mẹ Maria và Thánh Giuse đã góp phần cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Lạy Chúa, xin cho con biết dùng tình cảm và tình yêu của con để phục vụ Nước Chúa.

4. “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như thiên thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.” (Mt 1,24)

Tên thánh của tôi là Giuse. Tôi rất tự hào về điều đó và thường tự hỏi “Mình phải làm thế nào để trở nên giống thánh bổn mạng?” Thánh Giuse đã làm như thiên thần dạy là đón nhận Đức trinh nữ Maria. Ngài chấp nhận cuộc sống âm thầm để phục vụ Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Còn tôi thì sao? Một lần, tôi nhờ mẹ giặt hộ một bộ quần áo để đi dự tiệc. Vì bận việc, mẹ tôi đã quên. Tôi cằn nhằn và bỏ luôn buổi tiệc… Ngay cả chuyện nhỏ như vậy mà tôi chưa sẵn sàng vui vẻ đón nhận thì kể gì đến những chuyện lớn lao.

Xin Thánh Giuse dạy con biết khiêm tốn đón nhận và thực thi ý Chúa cách trọn vẹn như Ngài.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua việc nhập thể làm người Chúa đã mang ơn thánh hóa đến cho nhân trần chúng con. Chúa làm người cho con người làm con Thiên Chúa. Đây là ân huệ vô cùng cao quý mà Chúa đã dành cho chúng con. Chúng con xin hết lòng tri ân cảm tạ Chúa. Tạ ơn Chúa đã yêu thương chúng con. Tạ ơn Chúa đã mang thân phận con người để nâng loài người chúng con lên làm con Thiên Chúa. Xin giúp chúng con luôn biết mở rộng lòng đón rước Chúa mỗi ngày, để Chúa ở cùng chúng con sẽ mang lại cho chúng con niềm vui và sự hoan lạc tràn ngập tâm hồn.

Lạy Chúa Giêsu mến yêu, có Chúa ở cùng chúng con là một hồng ân vô giá mà Chúa dành cho chúng con. Quả thực, đâu còn gì hạnh phúc hơn khi được chính Chúa cùng chia sẻ vui buồn trong những thăng trầm của cuộc đời chúng con. Sự hiện diện của Chúa như người cha luôn mang lại cho con cái niềm tin, nghị lực, sức phấn đấu và sự ủi an. Xin giúp chúng con biết học nơi Mẹ Maria thái độ lắng nghe, cầu nguyện để nhận ra ý Chúa trong từng biến cố của cuộc đời. Xin giúp chúng con luôn quảng đại dấn thân cho ý Chúa được thực hiện như thánh Giuse đã quảng đại đón nhận Mẹ Maria về làm bạn của mình. Xin giúp chúng con cũng biết đón nhận ý Chúa bằng hai tiếng xin vâng với trọn lòng yêu mến như Mẹ Maria.

Lạy Chúa, xin dùng chúng con như khí cụ của Chúa để công việc và thánh ý Chúa được nên trọn trong cuộc đời hôm nay. Amen.